Ngôn ngữ địa lý là gì?
Bàn phím thì ổn, chuột thì hỏng Tìm hiểu thêm về các triệu chứng, nguyên nhân, yếu tố rủi ro, chẩn đoán và điều trị.
Áp xe quanh amidan hình thành trong các mô của họng bên cạnh một trong các amidan. Áp xe là một tập hợp mủ hình thành gần vùng da bị nhiễm trùng hoặc mô mềm khác.
Áp xe có thể gây đau, sưng và nếu nghiêm trọng có thể gây tắc nghẽn cổ họng. Nếu cổ họng bị tắc nghẽn, việc nuốt, nói và thậm chí thở cũng trở nên khó khăn.
Khi tình trạng nhiễm trùng amidan (được gọi là viêm amidan) lan rộng và gây nhiễm trùng ở các mô mềm, có thể dẫn đến áp xe quanh amidan.
Áp xe quanh amidan thường không phổ biến. Khi xảy ra, chúng có nhiều khả năng xảy ra ở người lớn trẻ tuổi, thanh thiếu niên và trẻ lớn hơn.
Áp xe quanh amidan thường là biến chứng của viêm amidan. Các vi khuẩn liên quan tương tự như các vi khuẩn gây viêm họng liên cầu khuẩn .
Vi khuẩn liên cầu khuẩn thường gây nhiễm trùng ở mô mềm quanh amidan (thường chỉ ở một bên). Sau đó, mô bị vi khuẩn kỵ khí (vi khuẩn có thể sống mà không cần oxy) xâm nhập, xâm nhập qua các tuyến gần đó.
Nhiễm trùng răng (như nhiễm trùng nướu răng, viêm nha chu và viêm nướu ) có thể là một yếu tố nguy cơ. Các yếu tố nguy cơ khác bao gồm:
Triệu chứng đầu tiên của áp xe quanh amidan thường là đau họng. Có thể có một khoảng thời gian không sốt hoặc các triệu chứng khác khi áp xe phát triển. Không có gì bất thường khi có sự chậm trễ từ 2 đến 5 ngày giữa thời điểm bắt đầu có triệu chứng và hình thành áp xe.
Có thể quan sát thấy các dấu hiệu và triệu chứng khác:
Trao đổi về bất kỳ tình trạng đau họng kèm theo sốt hoặc các triệu chứng khác với bác sĩ qua điện thoại hoặc đến phòng khám để xem bạn có bị áp xe quanh amidan hay không.
Nếu bạn bị đau họng và khó nuốt, khó thở , khó nói, chảy nước dãi hoặc bất kỳ dấu hiệu nào khác cho thấy có khả năng tắc nghẽn đường thở, bạn nên đến phòng cấp cứu gần nhất.
Áp xe quanh amidan thường được chẩn đoán dựa trên tiền sử bệnh và khám sức khỏe. Áp xe quanh amidan dễ chẩn đoán khi nó đủ lớn để nhìn thấy. Bác sĩ sẽ nhìn vào miệng bạn bằng đèn và có thể là dụng cụ đè lưỡi . Sưng và đỏ ở một bên họng gần amidan gợi ý áp xe. Bác sĩ cũng có thể nhẹ nhàng ấn vào vùng đó bằng ngón tay đeo găng để xem có mủ do nhiễm trùng bên trong không.
Xét nghiệm trong phòng thí nghiệm và chụp X-quang không được sử dụng thường xuyên. Đôi khi sẽ chụp X-quang, chụp CT hoặc siêu âm , thường là để đảm bảo không có các bệnh đường hô hấp trên khác. Các tình trạng này có thể bao gồm:
Bác sĩ có thể xét nghiệm bạn bị bệnh bạch cầu đơn nhân, một loại vi-rút. Một số chuyên gia cho rằng bệnh bạch cầu đơn nhân có liên quan đến 20% áp xe quanh amidan.
Bác sĩ cũng có thể gửi mủ từ ổ áp xe đến phòng xét nghiệm để có thể xác định chính xác loại vi khuẩn. Mặc dù vậy, việc xác định vi khuẩn hiếm khi thay đổi phương pháp điều trị.
Không có cách điều trị tại nhà cho áp xe quanh amidan. Hãy gọi cho bác sĩ để được hẹn khám ngay để kiểm tra các triệu chứng của bạn.
Nếu bạn bị áp xe quanh amidan, mối quan tâm chính của bác sĩ sẽ là hơi thở và đường thở của bạn. Nếu tính mạng của bạn bị đe dọa vì cổ họng bị tắc, bước đầu tiên có thể là đưa kim vào túi mủ và dẫn lưu đủ dịch để bạn có thể thở thoải mái.
Nếu tính mạng của bạn không bị đe dọa ngay lập tức, bác sĩ sẽ cố gắng hết sức để quá trình này không gây đau đớn nhất có thể. Bạn sẽ được tiêm thuốc gây tê tại chỗ (giống như ở nha sĩ) vào da trên ổ áp xe và nếu cần, thuốc giảm đau và an thần qua đường truyền tĩnh mạch được đưa vào cánh tay của bạn. Bác sĩ sẽ sử dụng ống hút để giúp bạn tránh nuốt phải mủ và máu.
Bác sĩ có một số lựa chọn để điều trị cho bạn:
Nếu bạn khỏe mạnh và ổ áp xe thoát dịch tốt, bạn có thể về nhà. Nếu bạn bị bệnh nặng, không nuốt được hoặc có các vấn đề y tế phức tạp (như bệnh tiểu đường), bạn có thể phải nhập viện. Trẻ nhỏ, những người thường cần gây mê toàn thân để dẫn lưu, thường phải nằm viện để theo dõi.
Sắp xếp tái khám với bác sĩ hoặc bác sĩ chuyên khoa tai-mũi-họng ( bác sĩ tai mũi họng ) sau khi điều trị áp xe quanh amidan. Ngoài ra:
Không có phương pháp đáng tin cậy nào để ngăn ngừa áp xe quanh amidan ngoài việc hạn chế rủi ro: Không hút thuốc, giữ vệ sinh răng miệng tốt và điều trị nhiễm trùng miệng kịp thời.
Những người bị áp xe quanh amidan không biến chứng, được điều trị tốt thường hồi phục hoàn toàn. Nếu bạn không bị viêm amidan mãn tính (khi amidan thường xuyên bị viêm), khả năng áp xe tái phát chỉ là 10% và thường không cần cắt bỏ amidan.
Hầu hết các biến chứng xảy ra ở những người bị tiểu đường, những người có hệ miễn dịch suy yếu (như những người mắc AIDS, người được ghép tạng đang dùng thuốc ức chế miễn dịch hoặc bệnh nhân ung thư) hoặc ở những người không nhận ra mức độ nghiêm trọng của bệnh và không đi khám.
Các biến chứng chính của áp xe quanh amidan bao gồm:
NGUỒN:
MedlinePlus: "Áp xe quanh amidan."
FamilyDoctor.org: "Áp xe quanh amidan."
Nhà xuất bản Harvard Health: "Áp xe quanh amidan".
Tiếp theo Trong Các Tình Trạng Miệng Khác
Bàn phím thì ổn, chuột thì hỏng Tìm hiểu thêm về các triệu chứng, nguyên nhân, yếu tố rủi ro, chẩn đoán và điều trị.
Phương pháp điều trị khô miệng phụ thuộc vào nguyên nhân gây ra vấn đề. Tìm hiểu thêm từ WebMD về các phương pháp khác nhau để kích thích tuyến nước bọt.
Men răng có tác dụng gì? WebMD giải thích men răng là gì, nguyên nhân nào khiến men răng bị mòn, cách ngăn ngừa mất men răng và cách điều trị.
Tìm hiểu các thuật ngữ liên quan đến chăm sóc răng miệng và định nghĩa của chúng.
Nhiều người cho rằng việc sinh ra với khe hở môi và vòm miệng là một trở ngại có thể gây ra những tác động tiêu cực trong suốt cuộc đời, nhưng Dave Liu lại không đồng ý.
Ổ khô là một biến chứng đau đớn có thể xảy ra sau khi nhổ răng. Tìm hiểu thêm về các triệu chứng và phương pháp điều trị.
Hãy đảm bảo rằng việc làm trắng răng của bạn không trở nên quá tốt.
Bạn có vấn đề về răng? Bạn không cần phải là MacGyver để cứu miếng trám bị mất hoặc thay thế mão răng.
Từ việc vệ sinh răng miệng đến làm trắng răng hay thiết kế nụ cười, ngày nay, việc đi khám nha sĩ có thể là một trải nghiệm thẩm mỹ.
Hãy tận dụng lễ Halloween để dạy trẻ những bài học quan trọng về dinh dưỡng và chăm sóc răng miệng.