Làm thế nào để chẩn đoán thoát vị?
Một cuộc kiểm tra sức khỏe của bác sĩ thường đủ để chẩn đoán thoát vị . Đôi khi, bạn có thể nhìn thấy khối thoát vị khi đứng thẳng; thông thường, bạn có thể cảm nhận được khối thoát vị nếu đặt tay trực tiếp lên khối thoát vị rồi rặn xuống. Siêu âm có thể được sử dụng để xem khối thoát vị đùi và chụp X-quang bụng có thể được chỉ định để xác định xem có tắc ruột hay không.
Phương pháp điều trị thoát vị là gì?
Ở trẻ sơ sinh, thoát vị rốn có thể tự lành trong vòng bốn năm, khiến phẫu thuật không cần thiết. Đối với tất cả các trường hợp khác, phương pháp điều trị tiêu chuẩn là phẫu thuật sửa chữa thoát vị thông thường (gọi là phẫu thuật khâu thoát vị). Có thể chỉ cần sống chung với thoát vị và theo dõi. Rủi ro chính của phương pháp này là cơ quan nhô ra có thể bị thắt nghẹt - nguồn cung cấp máu bị cắt đứt - và hậu quả là nhiễm trùng và chết mô. Thoát vị ruột bị thắt nghẹt có thể dẫn đến tắc ruột, khiến bụng sưng lên. Tình trạng thắt nghẹt cũng có thể dẫn đến nhiễm trùng, hoại thư , thủng ruột, sốc hoặc thậm chí tử vong.
Y học thông thường cho bệnh thoát vị
Phẫu thuật thoát vị được thực hiện dưới gây tê tại chỗ hoặc gây mê toàn thân. Bác sĩ phẫu thuật sẽ định vị lại mô thoát vị và nếu có tình trạng thắt nghẹt, sẽ cắt bỏ phần cơ quan bị thiếu oxy. Thành cơ bị tổn thương thường sẽ được sửa chữa bằng lưới hoặc mô tổng hợp.
Phẫu thuật thoát vị ngày càng được thực hiện bằng cách sử dụng ống soi ổ bụng, một dụng cụ mỏng giống như ống nhòm, đòi hỏi các vết mổ nhỏ hơn và thời gian phục hồi ngắn hơn cũng như ít đau hơn sau phẫu thuật. Phẫu thuật sửa chữa thoát vị thường được thực hiện như một thủ thuật ngoại trú. Thường không có hạn chế về chế độ ăn uống và công việc và hoạt động thường xuyên thường có thể được tiếp tục sau một hoặc hai tuần. Quá trình phục hồi hoàn toàn thường mất từ ba đến bốn tuần, không được nâng vật nặng trong hai đến ba tháng. Hãy hỏi bác sĩ phẫu thuật của bạn để biết hướng dẫn cụ thể sau khi phẫu thuật.
Thoát vị có thể tái phát sau phẫu thuật, vì vậy các biện pháp phòng ngừa đặc biệt quan trọng để giúp tránh tái phát.
NGUỒN:
Viện Quốc gia về Bệnh tiểu đường, Tiêu hóa và Thận.
Thư viện Y khoa Quốc gia.